KÉO CỘT SỐNG-P1: Cơ chế ảnh hưởng

Tháng Tư 12, 2017 - admin

Không có bình luận

Đau lưng là một triệu chứng phổ biến. Khoảng 80% dân số chung bị đau lưng vào một vài thời điểm trong cuộc đời và cơn đau này ít nhiều đều làm giảm chức năng sinh hoạt, làm việc và chất lượng cuộc sống của chúng ta. Phần lớn bệnh nhân đau lưng cấp sẽ hồi phục trong vòng 6 tuần, nhưng 5 – 15% sẽ không đáp ứng với điều trị và bệnh lý tiếp tục tiến triển. Một tỷ lệ nhỏ các bệnh nhân không hồi phục trong vòng 3 tháng; chiếm đến 75 – 90% tổng số chi phí điều trị liên quan đến vấn đề này.  Những con số trên phần nào cho thấy cần phải có một sự hiểu biết đúng đắn về điều trị đau lưng.

Đau lưng do rất nhiều nguyên nhân. Các nguyên nhân phổ biến bao gồm thoái hóa cột sống, thoát vị nhân nhày đĩa đệm, lồi đĩa đệm, bệnh lý chùm đuôi ngựa, bệnh lý tủy, hẹp ống sống, vẹo cột sống, hội chứng mấu khớp, hội chứng khớp cùng chậu, các hội chứng do căng gân cơ quanh cột sống. Có những nguyên nhân cần phải điều trị phẫu thuật, tuy nhiên cũng có rất nhiều bệnh cảnh cần một chương trình điều trị bảo tồn đúng đắn. Vậy phẫu thuật hay điều trị bảo tồn, đều có những chỉ định cụ thể cho từng trường hợp và sẽ được đề cập đến trong bài đau lưng tổng quát.

Tại đây, trong chuyên đề nhỏ bé này, chúng ta thu nhỏ phạm vi tìm hiểu trong điều trị bảo tồn đau lưng. Để điều trị bảo tồn một ca đau lưng là cả một nghệ thuật, từ lựa chọn bệnh nhân, xác định nguyên nhân, yếu tố nguy cơ, các rối loạn khác đi kèm làm thay đổi tính chất đau, và cuối cùng là quyết định chương trình điều trị phù hợp cho mỗi bệnh nhân. Nếu ai đã từng được chẩn đoán đau lưng cơ năng, ắt hẳn đều đã một lần được gửi đến tập vật lý trị liệu với chỉ định: kéo lưng. Đơn giản và ngắn gọn! Nhưng tại sao phải kéo, kéo như thế nào là phù hợp, phải thực hiện bao lâu, và chỉ điều trị đau lưng bằng kéo dãn thôi thì có được chăng? Hy vọng với bài viết này, bạn sẽ hiểu rõ hơn và yên tâm với phương pháp điều trị của chúng tôi.

Kéo dãn là việc thực hiện một lực cơ học lên một phần cơ thể bằng cách tách các bề mặt khớp và kéo dài những mô mềm xung quanh. Kéo dãn có thể được thực hiện bằng tay hay bằng máy, ngoài ra còn có thể tự thực hiện bằng cách sử dụng trọng lực và sức nặng của cơ thể để tạo ra lực kéo. Kéo dãn có thể thực hiện trên cột sống hoặc các khớp ngoại biên. Trong phạm vi bài viết, chúng tôi chỉ đề cập đến kéo dãn cơ học bằng máy cho cột sống cổ và lưng.


Những ảnh hưởng của kéo dãn trên cột sống

Kéo cột sống là tạo lực dọc trục trên cột sống, có khả năng giảm áp lực trên đĩa đệm và các mấu khớp, làm rộng lỗ gian đốt sống, có thể tách khớp, giảm lồi đĩa đệm; kéo dài dây chằng, gân, và cơ chạy dọc cột sống làm thư giãn cơ mô mềm, và di động khớp. Kích thích thụ thể cơ học cảm giác bằng cách kéo dãn có thể giúp kiểm soát dẫn truyền đau dọc theo con đường thần kinh dẫn truyền đau hướng tâm.

TÁCH KHỚP. Tách khớp giúp làm giảm những dấu hiệu và triệu chứng có liên quan đến sự tăng tải trên vùng khớp này, làm giảm lực nén ép trên những rễ thần kinh đi ngang qua những lỗ gian đốt sống và làm rộng lỗ liên hợp. Do đó, tách khớp có khả năng làm giảm đau có nguồn gốc vi chấn thương trong khớp gây viêm, hoặc chèn ép rễ thần kinh. Để sự kéo dãn này xảy ra cần có một lực đủ mạnh để kéo dài mô mềm xung quanh khớp dẫn đến tách khớp. Ví dụ trên đối tượng khỏe mạnh, một lực tương đương 25% cân nặng cơ thể bệnh nhân là đủ làm tăng chiều dài cột sống lưng; tuy nhiên, lực tương đương 50% trọng lượng cơ thể mới đủ để tách các mấu khớp. Ước lượng lực kéo còn thay đổi, phụ thuộc vào vị trí và tình trạng khỏe mạnh của khớp. Ví dụ đối với mấu khớp ở cột sống thắt lưng thường có nhiều mô dai chắc hơn vùng cổ, do đó cũng cần đến lực kéo lớn hơn để đạt hiệu quả mong muốn. Nếu cột sống thoái hóa, lực cũng cần giảm đi so với thoát vị trên một cột sống khỏe mạnh.

GIẢM LỒI ĐĨA ĐỆM. Theo Cyriax, “kéo dãn là một chọn lựa điều trị tốt cho lồi nhân đệm nhỏ”. Các nghiên cứu trên thế giới ủng hộ việc kéo dãn cho những trường hợp lồi nhỏ, và rất nhiều tác giả cho rằng chính những lồi nhỏ này là nguyên nhân gây ra đau lưng. Tuy nhiên triệu chứng sẽ không cải thiện nếu bệnh nhân có khối thoát vị lớn, che lấp ½ kênh tủy, hoặc khi những lồi đĩa đệm này đã bị calci hóa cứng chắc.

THƯ GIÃN CƠ. Kéo cột sống làm thư giãn nhóm cơ cạnh cột sống. Hiệu quả này giúp giảm đau nhờ làm giảm áp lực trên các cấu trúc nhạy cảm đau, hoặc kiểm soát con đường dẫn truyền đau bằng cách kích thích thụ thể cơ học bằng những chuyển động rung được tạo ra bởi kéo dãn ngắt quãng. Những chuyển động rung này phá vỡ vòng tròn “ĐAU – CO THẮT – THIẾU MÁU – ĐAU” của co thắt cơ. Thực hiện xen kẽ những giai đoạn co – nghỉ – co xen kẽ làm thư giản cơ nhờ vào 2 tác dụng sau đây: vào giai đoạn kéo tĩnh trong nhiều giây sẽ làm giảm đáp ứng đơn synap, và giai đoạn kéo ngắt quãng gây ra những thay đổi nhỏ trong sự căng cơ, kích thích cơ quan gân Golgi (GTOs) để ức chế neuron vận động alpha, kết quả là làm thư giãn cơ.

KÉO DÃN MÔ MỀM. Kéo cột sống làm kéo dài cột sống và làm tăng khoảng cách giữa những thân sống và bề mặt mấu khớp. Những hiệu quả này có được là nhờ vào sự tăng chiều dài của mô mềm xung quanh khớp, bao gồm cơ, gân, dây chằng, , các đĩa đệm và làm di động khớp.  Lợi ích của kéo dãn mô mềm là làm tách khớp, giảm lồi đĩa đệm, hoặc tăng tầm vận động (ROM) của cột sống, từ đó làm giảm áp lực trên bề mặt mấu khớp, đĩa đệm, và rễ thần kinh gian đốt sống, thậm chí ngay cả khi không tách khớp hoàn toàn được.

DI ĐỘNG KHỚP. Kéo dãn làm tăng sự di động khớp và làm giảm đau trong những trường hợp đau do nguyên nhân từ mặt khớp. Những cử động rung trong kéo ngắt quãng là vừa đủ để kích thích thụ thể cơ học, do đó làm giảm đau liên quan khớp bằng cách kiểm soát con đường dẫn truyền đau hướng tâm. Hiệu quả kéo cột sống tương tự như việc thực hiện kĩ thuật kéo dãn bằng tay. Tuy nhiên khi kéo bằng máy, một số các khớp đều sẽ được di động tại một thời điểm, trong khi đó kéo bằng tay thì sẽ khu trú hơn.


(Continued)

BSNT. PHCN VDHQ

Bộ môn CTCH và PHCN ĐH Y Dược TP.

admin

Để lại bình luận

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *