ĐIỀU TRỊ SIÊU ÂM TRONG HỘI CHỨNG ỐNG CỔ TAY

Tháng Bảy 11, 2017 - admin

Không có bình luận

Bản chất của sóng âm

Khác với sóng điện từ là những sóng ngang, nghĩa là dao động song thẳng góc với phương truyền, song âm là loại song truyền theo chiều dọc, có nghĩa là cùng hướng với phương truyền song. Như thế ta có một song dọc khi sự lan truyền là sự dịch chuyển của mỗi lượng nhỏ vật chất khỏi vị trí cân bằng của nó theo phương truyền song.

Sóng điện từ có thể truyền đi trong không gian, trong khi song âm chỉ truyền đi trong một môi trường vật chất. Môi trường này cần phải có một độ đàn hồi nào đó để cho những phần tử có thể bị nén lại hay giãn ra để duy trì chuyển động qua lại. Khi chuyển động qua lại, trong vật chất xuất hiện các vùng áp suất cao xen kẽ các vùng áp suất thấp. Vì thế, các song dọc còn gọi là song nén. Sóng siêu âm dùng trong y học có tần số 500.000 đến 3.000.000 chu kỳ/ giây, nhưng tần số 1.000.000 chu kỳ/giây thường được sử dụng nhất.


Tác dụng sinh lý và trị liệu của sóng siêu âm

  • Tác dụng nhiệt: làm gia tăng hoạt động của tế bào, giãn mạch, gia tăng tuần hoàn, gia tăng chuyển hóa, và quá trình đào thải, đồng thời giải quyết hiện tượng viêm.
  • Tác dụng cơ học: siêu âm làm lỏng các mô kết dính, do sự tách rời các sợi collagen và làm mềm chất kết dính. Nếu chấn động lớn hơn có thể gây vỡ mô và gây nên hiện tượng sinh hốc và các tổn thương trầm trọng khác.
  • Giảm đau: tác dụng nhiệt và tác dụng lên các đầu tận thần kinh
  • Tác dụng hóa học: có thể có tác dụng gián tiếp thông qua tác dụng sinh nhiệt.

Tác dụng phụ của siêu âm

Bỏng

Sinh hốc

Quá liều


Chống chỉ định của siêu âm

U ác tính và các bướu tân sinh: nguy cơ di căn tăng lên

Không áp đầu biến năng lên tử cung đang mang thai, lưng hông, chậu và các vùng kế cận trên phụ nữ mang thai.

Mô thần kinh trung ương như não và tủy, đầu xương đang tăng trưởng, các máy tạo nhịp tim, viêm tắc tĩnh mạch, mắt và các cơ quan sinh sản


Điều trị siêu âm trong Hội chứng ống cổ tay

Siêu âm trong điều trị HỘI CHỨNG ỐNG CỔ TAY

Siêu âm liên tục thường không được khuyến cáo trong điều trị hội chứng ống cổ tay bởi vì những nguy cơ gây ra tác dụng phụ trên tốc độ dẫn truyền thần kinh do tác dụng nhiệt quá mức. Bên cạnh đó, nghiên cứu đã chỉ ra rằng siêu âm theo kiểu mạch đập làm cải thiện đáng kể những than phiền chủ quan về cảm giác đau có ý nghĩa (chỉ số p<0,001, phép kiểm t bắt cặp), sức cầm nắm của tay và sức kẹp, và những thay đổi về điện cơ có ý nghĩa (thời gian tiềm tàng vận động xa p<0,001, phép kiểm t bắt cặp; tốc độ dẫn truyền thần kinh cảm giác ngược chiều p<0,001, phép kiểm t bắt cặp) hơn là nhóm chứng. Những kết quả này được ghi nhận lại sau 6 tháng theo dõi. Siêu âm được tiến hành trong 20 lần ở tần số 1MHz, cường độ 1.0 W/cm2, chu kì mạch đập 1:4, trong 15 phút mỗi lần.

Một nghiên cứu khác lâm sàng, có nhóm chứng, phân bố ngẫu nhiên đã cho thấy những cải thiện lâm sàng ở cả nhóm bệnh nhân điều trị siêu âm và điều trị với thuốc diclofenac với hội chứng ống cổ tay từ mức độ nhẹ đến trung bình. Siêu âm liên tục với cường độ 0,5 W/cm2 trong 10 phút cho hội chứng ống cổ tay trong 10 phút/ 5 ngày/ một tuần liên tục 4 tuần. Chỉ nhóm điều trị với siêu âm có những thay đổi đáng kể về mặt điện sinh lý dẫn truyền thần kinh (tăng cường độ hoạt động thần kinh cảm giác), nhưng việc ứng dụng những kết quả này còn chưa chắc chắn.

Một nghiên cứu hệ thống vào năm 2010 về những phương pháp điều trị không phẫu thuật khác nhau đã kết luận rằng có bằng chứng mức độ trung bình rằng siêu âm hiệu quả hơn nhóm giả dược sau 7 tuần điều trị và sau 6 tháng theo dõi, nhưng không có bằng chứng về hiệu quả tương tự nếu chỉ điều trị trong 2 tuần. Cơ chế  đề nghị cho hiệu quả của siêu âm trong hội chứng ống cổ tay bao gồm kháng viêm và hiệu ứng kích thích mô.

 


Kết luận

Siêu âm có giá trị trong  điều trị hội chứng ống cổ tay mức độ nhẹ đến trung bình, tùy trường hợp mà sử dụng siêu âm liên tục hay siêu âm theo kiểu mạch đập, với cường độ và tần tần số phù hợp, với thời gian điều trị ít nhất là sáu tuần. (Bằng chứng có giá trị mức độ trung bình)


BS.PHCN Võ Dương Hương Quỳnh


Tài liệu tham khảo:

  • H. Cameron, 2012, Physical agents in rehabilitation from research to practice, “Ultrasound”, Chapter 9, 4th edition
  • Herrick JF: Temperatures produced in tissues by ultrasound: experimental study using various technics, J Acoust Soc Am 25:12-16, 1953.
  • Oztas O, Turan B, Bora I, et al: Ultrasound therapy effect in carpal tunnel syndrome, Arch Phys Med Rehabil 79:1540-1544, 1988.
  • Ebenbichler GR, Resch KL, Nicolakis P, et al: Ultrasound treatment or treating the carpal tunnel syndrome: randomised “sham” controlled trial, BMJ 316:731-735, 1998.
  • Piravej K, Boonhong J: Effect of ultrasound thermotherapy in mild to moderate carpal tunnel syndrome, J Med Assoc Thailand, 87(Suppl 2):S100-106, 2004.
  • Huisstede BM, Hoogvliet P, Randsdorp MS, et al: Carpal tunnel syndrome. Part I: effectiveness of nonsurgical treatments—a systematic review, Arch Phys Med Rehabil 91:981-1004, 2010.

admin

Để lại bình luận

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *